BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg TG10.jpg CangBien.jpg

    Giới thiệu cuốn sách ĐOÁ HỒNG TẶNG MẸ

    Ho Chi Minh chan dung mot cuoc doi

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vương Thị Lan
    Ngày gửi: 14h:06' 30-04-2024
    Dung lượng: 2.8 MB
    Số lượt tải: 6
    Số lượt thích: 0 người
    HỒ CHÍ MINH - CHÂN DUNG MỘT CUỘC ĐỜI
    Nguyên bản “HO CHI MINH, A LIFE”
    Tác giả: WILLIAM J. DUIKER
    Người dịch: NGUYỄN HỌC - LÂM HOÀNG MẠNH
    Được sự chấp thuận của tác giả William J. Duiker
    Ebook: Cuibap
    Nguồn text: kbchaingoai.wordpress.com

    Kính tặng nhân dân Việt Nam
    WILLIAM J. DUIKER

    LỜI NÓI ĐẦU

    Tôi bị thu hút bởi Hồ Chí Minh từ giữa những nǎm 1960 khi còn là một
    cán bộ ngoại giao trẻ tuổi làm việc tại toà đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Tôi lấy
    làm khó hiểu khi thấy những du kích Việt cộng chiến đấu trong rừng tỏ ra có
    kỷ luật và năng động hơn đội quân chính phủ Nam Việt, đồng minh của
    chúng tôi. Tìm hiểu vấn đề, tôi được giải thích, đó là do vai trò của người
    sáng lập và nhà chiến lược cựu trào bậc thầy cách mạng Việt Nam - Hồ Chí
    Minh. Sau khi thôi phục vụ trong chính quyền Hoa Kỳ theo đuổi sự nghiệp
    khoa học, tôi có ý định viết một cuốn tiểu sử về con người kỳ lạ này. Nhưng
    ngay lập tức tôi nhận ra, trong bối cảnh lịch sử thời kỳ đó, chưa thể có đầy đủ
    điều kiện để tiếp cận các nguồn thông tin. Vì thế tôi đành bỏ ý định, cho mãi
    đến những năm gần đây, thế giới trở nên cởi mở hơn, các nguồn tin tràn đầy
    vì thế đã thúc đẩy tôi bắt tay vào công việc khó khăn này.
    Trong quá trình hoàn thành cuốn sách, tôi đã phải mất hơn hai thập niên
    trăn trở, nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của bè bạn cùng các quỹ của các cơ
    quan và hội đoàn. Quỹ nghiên cứu của trường College of Liberal Arts cũng
    như của Institute for the Art & Humanistic Studies thuộc trường
    Pennsylvania State University đã tài trợ kinh phí những lần tôi sang Pháp và
    Việt Nam để thực hiện đề tài nghiên cứu. Thông qua trợ lý Mark Side của
    Ford Foundation, tôi hân hạnh được tháp tùng Marilyn Young và A. Tom
    Grunfeld trong chuyến đến Hà nội năm 1993 để tìm hiểu mối quan hệ giữa

    Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ. Nhân đây tôi cũng xin cám ơn Ủy ban Nghiên cứu
    Khoa học Xã hội, Chương trình trao đổi Khoa học Đông Dương của Ủy ban
    và Viện Mác-Lênin đã cấp học bổng tài khoá năm 1990 trong thời gian làm
    đề tài nghiên cứu. Khi tôi ở đó, Viện Sử Học, Viện Marx-Lenin đã tạo mọi
    điều kiện cho tôi được trao đổi, thảo luận các chủ đề khác nhau về Hồ Chí
    Minh và lịch sử cách mạng Việt Nam. Học viện Quan hệ Quốc tế đã tài trợ
    chuyến đi trước đó - 1985 - kể cả chuyến đi thú vị thăm làng Kim Liên, quê
    hương của Hồ Chí Minh. Trong số những cá nhân trợ giúp trong thời gian tôi
    nghiên cứu ở Hà nội, tôi chân thành cảm ơn Nguyễn Huy Hoan - Bảo tàng
    Hồ Chí Minh, Nguyễn Thanh - Bảo tàng Cách mạng và Trần Thành - Viện
    Mác-Lênin, tất cả đồng ý trả lời những cuộc phỏng vấn chiếm nhiều thời
    gian. Tại Đại học Tổng hợp Hà Nội, những nhà sử học Phùng Hữu Phú, Lê
    Mậu Hãn, Phạm Xanh và Phạm Công Tùng vui lòng dành cho tôi thời gian,
    cung cấp những tư liệu về đời sống và tư tưởng của Hồ Chí Minh. Cố Viện
    trưởng Bảo tàng Hồ Chí Minh Hà Huy Giáp và Đặng Xuân Kỳ, khi đó là
    Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội, vui lòng trả lời những câu hỏi của tôi đối
    với những hồi ức cá nhân của họ về chủ tịch Hồ Chí Minh. Đỗ Quang Hưng,
    Ngô Phượng Bá, Văn Tạo, Trần Hữu Định tại Viện Sử học và Lưu Doãn
    Huỳnh thuộc Viện Quan hệ Quốc tế đã không quản ngại thời gian giúp đỡ tôi
    khai thác những vấn đề then chốt trong đề tài nghiên cứu.
    Tôi cũng đặc biệt cám ơn ông Vũ Huy Phúc, đã kiên nhẫn và rất hiếu
    khách, ông vừa tháp tùng vừa là cộng sự trong chuyến thăm Việt Nam năm
    1990. Mới đây, ông Hoàng Công Thuỷ thuộc Hội hữu nghị Việt-Mỹ đã giúp
    tôi tiếp xúc nhiều người và nhiều nguồn khác nhau khi tôi đi theo đường mòn
    Hồ Chí Minh. Dương Trung Quốc - chủ bút tạp chí Xưa Nay, cung cấp cho
    tôi một số tạp chí rất hữu ích. Nguyễn Quốc Uy thuộc Việt Nam Thông tấn

    xã đã vui lòng cho tôi được in lại trong cuốn sách này một số bức ảnh thuộc
    bản quyền Quân đội Nhân dân Việt Nam.
    Tôi đã đi thăm một số thư viện và các kho lưu trữ khắp thế giới để tìm
    kiếm những thông tin về những chuyến đi của Hồ Chí Minh. Ở Hoa Kỳ, tôi
    cám ơn nhân viên Ban Đông Phương thuộc thư viện Quốc hội và Allan
    Riedy, giám đốc của Echols Collection tại Thư viện Kroch, Đại học Cornell.
    Tại Lưu trữ quốc gia Mỹ ở College Park, Maryland, John Taylor và Larry
    McDonald có những giúp đỡ giá trị trong việc tìm kiếm văn bản lưu trữ của
    O.S.S (Office of Straticgic Service - Cơ quan Tình báo Chiến lược Mỹ) và
    các văn bản của Bộ Ngoại giao liên quan tới quan hệ Việt-Mỹ trong và sau
    Thế chiến II.
    Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Thư viện Quốc gia, Cục Lưu
    trữ Quốc gia Paris, đặc biệt Trung tâm Lưu trữ của Section Outre-Mer của
    tỉnh Aix-en của Pháp quốc. Trong chuyến thăm viếng Moscow năm 1990,
    Gennadi Maslov, Yevgeny Kobelev và Oxana Novakova đã có những buổi
    trao đổi rất hữu ích khi thảo luận những vấn đề về mối quan hệ của Hồ Chí
    Minh trong những năm sống ở Liên xô, đồng thời Sophia Quinn-Judge và
    Steve Morris đã cung cấp cho tôi nhiều tài liệu quý giá mà họ đã thu thập
    được trong kho lưu trử của Đệ Tam Quốc tế. Lê Hiển Hoành của Bảo tàng
    Cách mạng tỉnh Quảng Châu đã cung cấp những kết quả nghiên cứu của
    chính ông về những năm tháng HCM sống trong thành phố và đưa tôi đi thăm
    quan một cơ sở đào tạo thú vị mà trước kia ông đã từng tham gia giảng dạy
    bẩy mươi năm về trước.
    Tôi cũng cám ơn Tào Binh Vị và Diệp Hân tại Viện Nghiên cứu Quốc tế
    Bắc Kinh qua cuộc phỏng vấn tốn nhiều thời gian năm 1987 về những mối
    quan hệ Hoa-Việt. Bob O'Hara đã giúp tôi thu thập những tài liệu liên quan từ

    Cục lưu trữ Quốc gia ở London. Trong việc nghiên cứu, tôi rất vui vì có
    nhiều cách khác nhau để tiếp cận mà tôi là người đại diện. Tôi cũng cám ơn
    giáo sư Laura Tabili, Đại học Arizona, đã cung cấp những chỉ dẫn trong việc
    tìm kiếm những nguồn thông tin khác trong những năm Hồ Chí Minh sống ẩn
    dật ở Anh, cũng như nhân viên chi nhánh Hong Kong thuộc Cục Lưu trữ
    Quốc gia Anh tạo điều kiện cho tôi sử dụng những tài liệu lưu trữ liên quan
    tới thời kỳ Hồ Chí Minh bị tù ở đó vào đầu thập niên 1930. Đại sứ T.N. Kaul
    cũng giúp ích cho tôi trong việc trao đổi những kỷ niệm của ông về cuộc gặp
    gỡ giữa thủ tướng Jawaharlal Nehru và Chu Ân Lai mùa hè năm 1954.
    Tôi cũng chịu ơn một số học giả, những nhà nghiên cứu, những người đã
    chia sẻ sự quan tâm của tôi về Hồ Chí Minh và lịch sử cách mạng Việt Nam.
    Trong một số trường hợp, danh sách tên của họ khá dài, vì nhiều người trong
    số này cung cấp cho tôi những tài liệu cốt lõi, hoặc truy cập những nghiên
    cứu của chính họ trong những chủ đề liên quan. Dù sao, tôi cũng muốn đưa
    tên của họ vào trong cuốn sách này. Ở Hoa Kỳ, Douglas Pike và Steve Denny
    thuộc Lưu trữ Đông Dương, bây giờ làm việc tại Texas Tech University, đã
    có những gợi ý bổ ích trong lần đi thăm đầu tiên kho lưu trữ của họ đặt ở
    Berkeley. Ngoài ra còn có King C. Chen, Stanley Karnow, Bill Turley, Gary
    Tarpinian và Mai Elliott. John McAuliff thuộc chương trình Hòa giải Hoa
    Kỳ-Đông Dương, rất hảo tâm mời tôi tham dự hội nghị cựu chiến binh Việt
    Minh và Cơ quan Tình báo Chiến lược Hoa Koa Kỳ (OSS) tổ chức tại
    Hampton Bays, New York, năm 1998. Trong số người tham dự hội nghị này
    có Frank White, Henry Prunier, Carlton Swift, Mac Shinn, Frank Tan,
    George Wicks, Ray Grelecki và Charles Fenn, cũng như một đoàn đại biểu
    cựu chiến binh Việt Minh và những học giả cũng tham dự, đã chia sẻ những
    những kinh nghiệm thú vị, quý báu của chính họ trong thời kỳ đó cho tôi.

    Trong một dịp trước đó, tôi may mắn được thảo luận về Hồ Chí Minh với
    Archimedes (Al) Patti, mà ký ức của ông đã được viết trong cuốn “Tại sao
    Việt Nam?” “Khúc dạo đầu của ó biển Hoa Kỳ” (Prelude to America's
    Albatross) (Berkeley: Nhà xuất bản Đại học California, 1980), là một nguồn
    thông tin quan trong không thể thay thế được được về chủ đề này. Bob
    Bledsoe, chủ tịch Ban khoa học chính trị thuộc Đại học Central Florida, rộng
    lòng cho phép tôi tìm tòi trong kho lưu trữ của Patti tại Đại học của ông. Tôi
    cám ơn bà Magrgaret, quả phụ Al Patti, đã cho phép tôi in những tấm hình
    lấy từ lưu trữ đó trong cuốn sách này.
    Ở Pháp, một số người đã giúp tôi theo nhiều cách khác nhau, bao gồm
    Georges Boudarel, Daniel Hemery, Christiane Pasquel Rageau và Philippe
    Devillers, cũng như Chris Goscha và Agathe Larcher. Stein Tonnesson sự
    giúp đỡ nhiều trong việc chia sẻ những kết quả của chính ông nghiên cứu tại
    Trung tâm lưu trữ, Section Outre-Mer, tại Aix-en-Provence. Tôi cũng xin
    được cám ơn giáo sư Bernard Dahm, Đại học Passau đã mời tôi tham dự hội
    nghị về Hồ Chí Minh tại trường ông năm 1990. Lương Vô Ẩm và Trần Kiểm
    tốt bụng cung cấp cho tôi những tài liệu chữ Trung là những tư liệu để hiểu
    được mối quan hệ của Hồ Chí Minh với Trung Hoa. Những học giả Nga, Ilya
    Gaiduk và Anatoly Sokolov dành thời gian hoặc gửi cho tôi những tài liệu
    hữu ích về mối quan hệ Xô-Việt. Giáo sư Motoo Furuta, Đại học Tổng hợp
    Tokyo gửi tôi một số tài liệu quan trọng mà ở Hoa Kỳ tôi không thể tìm
    được. David Marr, Đại học Tổng hợp quốc gia Úc cung cấp cho tôi một số tài
    liệu, bài báo và một cuốn băng ghi bài phát biểu nổi tiếng của Hồ Chí Minh
    tại Quảng trường Ba Đình đầu tháng 9-1945. Tôi cám ơn Lí Ngọc Bình và
    Lưu Thượng Hoàng đã đóng góp và giúp đỡ rất nhiều khi còn là sinh viên của
    tôi tại Penn State, đã dành thời gian cung cấp những tài liệu hữu ích liên quan

    những hoạt động của Hồ Chí Minh ở miền nam Trung Quốc.
    Nhân đây, tôi xin cám ơn David Lott ở Hyperion, trong ban biên tập, đã
    giúp đỡ trong việc xuất bản, Trent Duffy người phụ trách bản thảo, một công
    việc khó khăn để chuẩn hóa tài liệu tham khảo, tới Lisa Stokes và Phil Rose,
    phụ trách trình bày bìa, sắp xếp nội dung và tới Paul Pugliese, Dorothy Baker
    cũng như Archie Ferguson đóng góp bản đồ, sắp xếp nội dung và phần tổng
    thể. Mark Chait sẵn sàng giúp đỡ tôi không mệt mỏi trong quá trình xuất bản.
    Tôi đặc biệt cám ơn biên tập viên, Will Schwalbe, đã khích lệ, đưa dự án này
    đến kết quả. Ngay từ đầu ông đã tỏ rõ mối quan tâm lớn lao là giúp tôi tạo ra
    một cuốn sách có chất lượng cao nhất. Sự kiên nhẫn, lòng hiếu khách và
    những lời khuyên của ông có giá trị thật vô bờ.
    Tôi cám ơn hai con gái tôi - Laura và Claire - đã không phàn nàn vì phải
    mất nhiều thời giờ trong nhiều năm để nghe cha chúng rao giảng về Việt
    Nam. Cuối cùng, tôi biết ơn vợ tôi vô cùng, Yvonne, không những là người
    đầu tiên đọc bản thảo mà còn tỏ sự kiên nhẫn lắng nghe những lần tôi nói về
    Hồ Chí Minh và coi ông như một thành viên trong gia đình.

    DANH SÁCH CÁC TỔ CHỨC ĐƯỢC NHẮC ĐẾN TRONG CUỐN SÁCH:

    Annam Cộng sản Đảng (ACP): Thời gian đảng tồn tại rất ngắn, được
    thành lập tại Đông Dương năm 1929 sau khi Hội Thanh niên cách mạng bị
    giải thể. Sau đó được sát nhập vào Đảng cộng sản Việt Nam tháng 2/1930
    Đội tuyên truyền giải phóng quân (APB): Một đơn vị quân đội cách
    mạng dưới sự lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng, thành lập tháng 121944, chuẩn bị cuộc khởi nghĩa sau Thế chiến thứ II kết thúc. Tiền thân của
    Việt Nam Giải Phóng Quân (VLA).
    Cứu quốc quân: Đơn vị vũ trang được tổ chức hoạt động chống Pháp và
    Nhật ở Bắc Việt 1944, sau đó được sát nhập vào Đội Tuyên truyền Giải
    Phóng quân (APB) thành Việt Nam Giải Phóng Quân (VLA).
    Quân đội Việt Nam Cộng hòa: Quân đội của chính quyền Việt Nam
    Cộng hòa từ 1956-1975.
    Quốc gia Liên hiệp Việt Nam (ASV): Chính quyền của Bảo đại được
    Hiệp định Elysée năm 1949 thừa nhận. Chính quyền tự trị dưới sự lãnh đạo
    của Quốc trưởng Bảo Đại nhưng thiếu sự ủng hộ. ASV hợp tác với Pháp
    trong cuộc chiến tranh Pháp - Việt Minh. Sau hiệp định Geneva 1954, ASV
    bị chính quyền miền Nam Việt Nam Độc lập thay thế.
    Tâm Tâm Xã: Tổ chức cách mạng cực đoan do một số phần tử di cư sống
    ở nam Trung Quốc, thành lập năm 1924. Sau này Hồ Chí Minh chuyển thành

    Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.
    Hội nghiên cứu chủ nghĩa Max: Hội thành lập trên giấy do Đảng cộng
    sản Đông Dương lập ra khi tự giải tán và rút vào bí mật tháng 11 năm 1945.
    Nhưng sự thật, Đảng cộng sản vẫn hoạt động bí mật cho đến khi Đảng Lao
    động ra đời năm 1951.
    Cao Đài: Một tổ chức tôn giáo hổ lốn phát sinh ở Nam bộ vào cuối Thế
    chiến thứ Nhất. Cao Đài chống lại tất cả các chính quyền muốn kiểm soát nó.
    Giáo phái này vẫn đang còn hoạt động, mặc dù bị chính quyền theo dõi đặc
    biệt.
    Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia (CPRP): Tổ chức cách mạng
    này được thành lập dưới sự yểm trợ của cộng sản Việt Nam từ đầu những
    năm 1950. Một trong ba đảng thừa kế đảng cộng sản Đông Dương bị giải tán
    năm 1951. Các lực lượng vũ trang của CPRP được gọi là Khmer Đỏ. Giữa
    những năm 60, Đảng cộng sản Khơ Me thay thế CPRP.
    Trung ương Cục miền Nam (COSVN): Cơ quan đầu não của Cộng sản
    hoạt động ở miền Nam trong thời kỳ Pháp-Việt Minh và sau này chiến tranh
    Việt Nam. Thành lập năm 1951 và giải tán sau khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975.
    Đảng cộng sản Trung Quốc (CCP): Tên đảng bộ của Đảng cộng sản
    thành lập ở Thượng Hải, Trung Hoa năm 1921.
    Quốc tế Cộng sản (CMT): Tổ chức cách mạng được thành lập tại nước
    Nga Xô viết năm 1919, Moscow là cơ quan đầu não của tổ chức. Trực tiếp
    lãnh đạo hoạt động của các đảng thành viên trên toàn thế giới. Giải tán năm
    1943. Đảng cộng sản Đông Dương gia nhập tổ chức này năm 1935.
    Đông Dương Cộng sản Đảng (CPI): Tổ chức cách mạng này chết yểu,
    gồm những phần tử ly khai từ Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội năm

    1929. Tháng Hai năm 1930 hợp nhất với Tân Việt Đảng thành Đảng cộng sản
    Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập.
    Đảng cộng sản Liên Xô (CPSU): Tên cũ Đảng Cách mạng, được thành
    lập dưới sự chỉ đạo của Vladimir I. Lenin những năm 1920.
    Đảng Hiến Pháp: Đảng chính trị ôn hòa do một số phần tử cải lương
    thành lập ở Nam bộ đầu những năm 1920. Đảng này chủ trương dành quyền
    tự trị dưới sự bảo trợ của Pháp. Lãnh đạo là Bùi Quang Chiêu hay lên tiếng
    chỉ trích Đảng cộng sản và bị cán bộ Việt Minh thủ tiêu trong thời gian Cách
    mạng tháng Tám 1945.
    Đảng Đại Việt: Một tổ chức Dân tộc chủ nghĩa, thành lập trong thời kỳ
    Thế chiến II, theo Nhật kêu gọi và kết nạp những người không cộng sản
    chống chế độ thuộc địa của Pháp. Đảng này tồn tại ở Nam Việt Nam đến năm
    1975 khi Sài Gòn sụp đổ.
    Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DRV): Chính quyền độc lập do Hồ Chí
    Minh và Mặt trận Việt Minh thành lập ở Bắc Việt ngày 2/9/1945. Tháng 121946, quân đội Pháp đánh bật ra khỏi Hà-nội. Hiệp định Geneva năm 1954
    thừa nhận chủ quyền của VNDCCH ở miền Bắc VN. Năm 1976 đổi thành
    Cộng Hòa XHCN Việt Nam.
    Đông kinh Nghĩa thục (Hanoi Free School): Trường học do một số nhà
    trí thức yêu nước lập ra ở Hà nội để thúc đẩy cải cách trong thập niên đầu của
    thế kỷ XX. Sau khi bị Pháp đóng cửa, những nhà sáng lập đã truyền đạt ý
    tưởng vào trường Dục Thanh ở Phan thiết, nơi Hồ Chí Minh đã từng dạy
    trong thời gian ngắn năm 1910.
    Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Đồng minh Hội): Tổ chức Việt
    Nam Dân Quốc dưới sự tài trợ của Quốc Dân Đảng Trung Hoa thành lập
    tháng Tám năm 1942. Tổ chức này liên kết một số đảng theo đường lối dân

    tộc chủ nghĩa và là con đẻ của tướng Quốc dân đảng Trương Phát Khuê.
    Khuê định dùng liên minh này để chống Nhật ở Đông Dương. Mặc dù Hồ
    Chí Minh đã tranh thủ lợi dụng tổ chức này cho mục đích của mình, sau Thế
    chiến II, Hội này quay ra chống Đảng cộng sản Đông Dương kịch liệt. Khi
    cuộc chiến với Pháp nổ ra tháng 12 năm 1946, Hội này coi như giải tán.
    Mặt trận Tổ quốc: Thành lập năm 1955 do chính phủ Việt Nam DCCH,
    thay thế cho mặt trận Liên Việt và trước đó là Mặt trận Việt Minh, một tổ
    chức ủng hộ đảng phái chính trị ở Việt Nam.
    Lực lượng quân viễn chinh Pháp: Lực lượng quân đội Pháp đóng ở
    Đông Dương trong thời kỳ chiến tranh Pháp-Việt Minh.
    Hòa Hảo: Một tổ chức tôn giáo hổ lốn do nhà sư Huỳnh Phú Sổ thành lập
    năm 1939. Cực kỳ chống Pháp và chống Cộng từ sau Thế chiến II. Hiện vẫn
    đang hoạt động dưới sự theo dõi sát sao của chính quyển Cộng Hoà
    XHCNVN.
    Thanh niên Cao vọng: một tổ chức dân tộc do Nguyễn An Ninh thành
    lập ở Sài gòn giữa những năm 1920. Chết yểu.
    Quốc Tử Giám: Trường đào tạo quan lại do triều đình tổ chức, được xây
    dựng từ thế kỷ thứ XI ở Hà-nội. Từ thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn
    chuyển về kinh đô Huế. Thân phụ Hồ Chí Minh được làm việc thời gian ngắn
    ở đây trong vai trợ giáo.
    Đảng cộng sản Đông Dương (ICP): Do Hồ Chí Minh và các đồng chí
    thành lập tháng 10-1930. Tên cũ là Đảng cộng sản Việt Nam thành lập tháng
    2-1930. Tự giải tán năm 1945. Tái thành lập năm 1951 dưới tên Đảng Lao
    động Việt Nam.
    Liên bang Đông Dương: Kế hoạch của Đảng cộng sản Đông Dương giữa

    thập niên 1930 để thành lập nhà nước Liên bang Cách mạng gồm Việt Nam Lào - Campuchia. Sau Thế chiến II, năm 1951, kế hoạch này được gọi là
    “mối quan hệ đặc biệt” giữa ba nước.
    Liên hiệp Đông Dương: tổ chức hành chính do Pháp lập ra cuối thế kỷ
    XIX để bảo đảm luật lệ của Pháp ở khu vực bao gồm Nam Kỳ - An nam
    (Trung Kỳ) - Bắc Kỳ -Lào - Campuchia.
    Ủy ban Kiểm soát quốc tế: Một tổ chức giám sát thực thi hiệp định đình
    chiến Geneva tháng 7-1954, gồm có Canada, Ấn Độ, Ba Lan.
    Đảng cộng sản Khmer: Tổ chức cộng sản thành lập giữa thập niên 1960
    do Pol Pot cực đoan đứng đầu thay thế Đảng Nhân dân Cách mạng
    Campuchia thành lập năm 1951.
    Khmer Đỏ: Tên thường dùng để chỉ lực lượng cách mạng Campuchia.
    Đôi khi người ta cũng chỉ Đảng cộng sản Khmer.
    Đảng Nhân dân Cách mạng Lào: Đảng do Đảng cộng sản Việt Nam bảo
    trợ, thành lập đầu năm 1950, còn hay được gọi là Pathet Lào.
    Mặt trận Liên Việt: Do Đảng cộng sản Đông dưong thành lập năm 1946
    để tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng với đảng, sát nhập với Việt Minh năm
    1951, đến năm 1955, Mặt trận Tổ quốc thay thể.
    Quốc học: Trường trung học uy tín ở Huế, thành lập năm 1896, đào tạo
    các quan lại thế hệ mới, dạy tiếng Pháp và các môn văn minh phương Tây.
    Hồ Chí Minh học trường này từ 1907 đến 1808.
    Vệ quốc quân: Tên gọi tắt của Giải phóng quân (VLA) sau Cách mạng
    tháng Tám, được chọn để tránh rắc rối với lực lượng Trung Hoa đang chiếm
    đóng.
    Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (NLF): Liên minh rộng rãi

    nhiều nhóm chống đối tại Nam Việt, thành lập năm 1960 dưới sự bảo trợ của
    nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giải tán năm 1976 sau khi thống nhất hai
    miền.
    Ủy ban Giải phóng Dân tộc: Cơ quan đại diện cho Việt Minh, thành lập
    ở Tân Trào để chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám. Hồ Chí Minh làm chủ
    tịch.
    Cứu quốc Hội: Một tổ chức quần chúng rộng lớn do Đảng cộng sản Đông
    Dương thành lập chống Pháp trong Thế chiến thứ II. Sau năm 1954 thường
    được gọi là Hội Cứu quốc.
    Tân Việt Cách mạng Đảng: Đảng cách mạng chống Pháp, thành lập cuối
    những năm 1920, sau đó sát nhập vào với Đông Dương Cộng sản Đảng
    (ICP).
    Pathet Lào: Tên gọi lực lượng quân đội cách mạng Lào. Trong chiến
    tranh Việt Nam, lực lượng quân đội này liên kết với Bắc Việt chống Mỹ.
    Quân đội Nhân dân Việt Nam: Quân đội thường trực, thành lập sau
    1954, kế thừa Giải phóng quân Việt Nam hoạt động trong chiến tranh chống
    Pháp.
    Giải phóng Quân Nhân dân: Còn gọi là Việt Cộng. Thành lập năm
    1961, tên cũ của lực lượng trong phong trào cách mạng trong thời kỳ chiến
    tranh Việt Nam.
    Việt Nam Cộng hoà (RVN): Tên cũ của chính phủ không cộng sản, thành
    lập ở Nam Việt sau Hội nghị Geneva. Năm 1956 đổi tên Việt Nam Tự do.
    Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ năm 1975, bị đồng hoá trở thành Cộng hoà
    XHCNVN.
    Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội: Một tổ chức cách

    mạng rất sớm do Hồ Chí Minh sáng lập ở Nam Trung Hoa năm 1925. Kết
    hợp chủ thuyết cộng sản và quốc gia, sau đó Đảng cộng sản thay thế 1930.
    Cộng hoà XHCN Việt Nam: Tên nhà nước Việt Nam thống nhất từ năm
    1976 sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc.
    Khối Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO): Liên minh do Mỹ thành lập
    1954 để ngăn chặn sự bành trướng chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Hiện
    nay đang tan rã.
    Thanh niên Tiền phong: Một phong trào thanh niên rộng khắp Nam Bộ
    được Nhật ủng hộ, do Phạm Ngọc Thạch thành lập trong thời gian Thế chiến
    II. Đảng cộng sản Đông Dương đã dùng lực lượng này để hỗ trợ Cách mạng
    tháng Tám tại Sài gòn.
    Việt Cộng: Tên miệt thị để chỉ quân giái phóng miền Nam Việt Nam
    trong chiến tranh Việt Nam. Tên cũ của Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền
    Nam (NLF).
    Mặt trận Việt Minh: Do Đảng cộng sản Đông Dương (ICP) đứng ra
    thành lập tháng 5-1941. Lực lượng chính trị chủ yếu chống Pháp trong Thế
    chiến thứ II và sau 1945 dành độc lập.
    Đảng cộng sản Việt Nam: do Hồ Chí Minh thành lập tháng 2/1930. Sau đó
    đổi thành Đảng cộng sản Đông Dương (ICP). Đến tháng 12-1976 mới lấy lại
    tên này.
    Đảng Dân chủ Việt Nam: Một đảng chính trị non yếu không cộng sản,
    thành lập dưới sự bảo trợ của Đảng cộng sản Đông Dương, tập hợp những
    phần tử yêu nước không cộng sản trong thành phần Việt Minh năm 1944.
    Đảng đại diện cho những nhà khoa học trí thức yêu nước. Tồn tại đến sau
    năm 1976.

    Việt Nam Giải phóng quân: Tên cũ của lực lượng kháng chiến chống
    Pháp của Đảng cộng sản Đông Dương trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
    sau Thế chiến II. Thành lập đầu tiên tháng 12 -1944, đổi tên Quân đội Nhân
    dân Việt Nam sau Hội nghi Geneva 1954.
    Việt Nam Giải phóng Đồng Minh: Một tổ chức mặt trận do Hồ Chí
    Minh sáng lập ở miền Nam Trung Quốc năm 1941, nhằm tập hợp các phần tử
    chống Pháp dưới sự lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng, nhưng sau đó
    có nhiều phần tử chống cộng tham gia trong một số khu vực. Sau đó Đồng
    Minh Hội thay thế.
    Quân đội Quốc gia Việt Nam: Tên chính thức của các lực lượng vũ trang
    của Quốc gia Liên hiệp do Bảo Đại làm Quốc trưởng. Sau hội nghị Geneva,
    năm 1956 được Quân đội Việt Nam Cộng hòa thay thế.
    Việt Nam Quốc dân đảng: Đảng dân tộc không cộng sản, thành lập ở
    Bắc Kỳ năm 1927. Trong nhiều thập niên là đối trọng chính trị chủ yếu của
    Đông Dương Cộng sản Đảng. Nay đã bị giải tán.
    Việt Nam Quang phục Hội: Đảng chống thực dân do Phan Bội Châu
    thành lập năm 1912. Mục tiêu thay thế chế độ quân chủ bằng nền cộng hòa.
    Sau mấy cuộc nổi dậy thất bại, đảng bị mất uy tín và tan rã.
    Đảng Lao động Việt Nam: Tên hình thức của Đảng cộng sản Việt Nam
    năm 1951. Sau đó đổi tên Đảng cộng sản Việt Nam.

    MỞ ĐẦU

    Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, những xe tăng Bắc Việt Nam do Liên
    Xô sản xuất ầm ầm lao qua ngoại ô bắc Sài Gòn và tiến về dinh tổng thống
    nằm giữa thành phố này. Trên xe tăng, binh sĩ mặc binh phục dã chiến và mũ
    cối đặc trưng gắn một ngôi sao vàng, vẫy cờ Chính phủ Cách mạng lâm thời.
    Sáng 30 tháng 4 năm 1975, những chiếc xe tăng Bắc Việt do Liên Xô sản
    xuất ầm ầm tiến qua các vùng ngoại ô bắc Sài Gòn hướng về phủ tổng thống,
    trung tâm thành phố. Ngồi trên những chiếc xe tăng là những người lính mặc
    quân phục dã chiến, đội mũ cối gắn sao vàng, vẫy cờ Chính phủ Cách mạng
    lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Ngay sau buổi trưa, một tốp xe tăng
    chậm chạp lăn bánh dọc theo đại lộ Thống Nhất ngang qua Tòa đại sứ Hoa
    Kỳ, nơi mà cách đó hai tiếng những người lính thuỷ đánh bộ Mỹ cuối cùng
    được máy bay trực thăng đưa đi từ trên nóc toà nhà. Chiếc xe đi đầu lưỡng lự
    giây lát ngoài cánh cổng sắt dinh tổng thống rồi đâm thẳng húc đổ cánh cổng,
    xe dừng lại bên thảm cỏ ngay trước thềm vào dinh. Người chỉ huy xe tăng trẻ
    tuổi bước vào toà nhà, gặp Tổng thống Dương Văn Minh - “Minh Lớn” chớp
    nhoáng. Sau đó anh lên nóc dinh, tiến tới cột cờ và thay lá cờ Việt Nam Cộng
    Hoà bằng lá cờ xanh đỏ của Chính phủ Cách mạng lâm thời.
    Cuộc chiến tranh kéo dài ở Việt Nam đã kết thúc. Sau gần một thập niên
    chiến đấu gian khổ và đẫm máu đã làm hơn 50.000 lính Mỹ tử trận, những

    người lính Mỹ cuối cùng đã lên đường về nước sau khi Hiệp định Paris được
    ký kết vào 1-1973. Tuy nhiên, Hiệp định này đã nhanh chóng vi phạm, vài
    tháng sau, các lực lượng vũ trang của chế độ Sài Gòn đã liên tiếp đụng độ với
    Việt Cộng và quân đội Bắc Việt (Quân đội Nhân dân Việt Nam) trong đó có
    hơn 100.000 người được Hiệp định ngầm chấp thuận ở lại miền Nam. Tháng
    12 năm 1974, được khích lệ bởi thắng lợi trên chiến trường và nhận định Hoa
    Kỳ sẽ không can thiệp lại vào cuộc chiến, các nhà lãnh đạo đảng (Đảng cộng
    sản Việt Nam lúc đó mang tên Đảng Lao động Việt Nam) thông qua kế hoạch
    của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến hành chiến dịch
    trong hai năm nhằm đánh đổ chính quyền Sài Gòn vào mùa xuân năm 1976.
    Tuy nhiên, những trận đánh thăm dò ban đầu dọc biên giới Campuchia và
    Tây Nguyên đầu năm 1975 đã cho thấy Sài Gòn chống trả yếu ớt. Do vậy,
    cuối tháng 3-1975, Hà Nội đã ra lệnh cho các tư lệnh chỉ huy ở miền Nam
    giành thắng lợi cuối cùng trước khi mùa khô kết thúc vào cuối tháng 4-1975.
    Hệ thống phòng thủ của Sài Gòn phía bắc Nam Bộ đã nhanh chóng sụp đổ và
    tới giữa tháng Tư những đoàn quân Bắc Việt đã nam tiến về Sài Gòn. Tổng
    thống Nam Việt Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngày 21 tháng 4 năm 1975.
    Người kế nhiệm là một chính trị gia Sài Gòn lớn tuổi Trần Văn Hương cũng
    chỉ nắm chính quyền trong bảy ngày và lại bị Minh “Lớn” thay thế với mong
    muốn tuyệt vọng, viên tướng miền Nam được nhiều người biết đến có thể sẽ
    khiến cho Bắc Việt chấp nhận thoả hiệp hòa bình. Nhưng những cử chỉ thăm
    dò hòa bình của tướng Minh đã bị Hà Nội lờ đi.
    Thắng lợi của cộng sản ở Sài Gòn là kết quả của lòng quyết tâm và sự lãnh
    đạo tài tình của nhà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn và những
    cộng sự kỳ cựu của ông ở Hà Nội. Một đóng góp không kém phần quan trọng
    là những đoàn quân Bắc Việt và du kích Việt Cộng - gọi tắt là bộ đội (bộ đội

    tiếng Việt có nghĩa như GI của Hoa Kỳ), những người đã chiến đấu và hy
    sinh cả một thế hệ cho sự nghiệp cách mạng trong những khu rừng rậm và
    đầm lầy ở miền Nam Việt Nam. Nhưng quan trọng hơn cả là tầm nhìn, ý chí
    và khả năng lãnh đạo của một con người. Hồ Chí Minh, người sáng lập Đảng
    cộng sản Việt Nam, nhà lãnh đạo phong trào cách mạng và Chủ tịch nước
    Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tới khi ông mất vào năm 1969, sáu năm trước
    khi chiến tranh kết thúc. Để tỏ lòng kính trọng đối với những cống hiến của
    ông, sau khi Sài Gòn sụp đổ, các đồng chí của ông đã đổi tên Sài Gòn thành
    Thành phố Hồ Chí Minh.
    Là đặc vụ của Quốc tế Cộng sản tại Moscow, thành viên phong trào cộng
    sản quốc tế, kiến trúc sư cho sự thắng lợi của Việt Nam, Hồ Chí Minh, rõ
    ràng là một trong những nhân vật chính trị có ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ
    XX. Hồ Chí Minh còn là một trong những nhân vật huyền bí nhất, một con
    người với những động cơ và hành động đã gây nhiều tranh cãi. Trong ba thập
    niên, đã có những tranh luận về một câu hỏi nhìn bề ngoài có vẻ đơn giản về
    những động cơ xuyên suốt cuộc đời Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách
    mạng. Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc hay theo chủ nghĩa cộng
    sản? Hình ảnh giản dị, vô tư của Hồ Chí Minh trước công chúng, chân thực
    hay giả dối? Với những người ủng hộ, Hồ Chí Minh là biểu tượng của chủ
    nghĩa nhân đạo cách mạng, là bậc cha anh đã cống hiến tất cả cho hạnh phúc
    của nhân dân và công cuộc giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế
    giới. Đối với những người đã được gặp ông, cả người Việt Nam cũng như
    người nước ngoài, ông là một “người hiền lành, tử tế”. Cho dù là một nhà
    lãnh đạo lớn trên thế giới, thực chất ông là nhà ái quốc vị tha gần gũi với
    nhân dân và nguyện suốt đời mang lại cuộc sống ấm no cho nhân dân Việt
    Nam. Tuy nhiên, một số nhà phê bình lại chỉ trích những hành động cách

    mạng thái quá mà người ta vẫn cho rằng là của ông và ông có tính cách hay
    thay đổi theo hoàn cảnh, một con sói đội lốt cừu.
    Nghi ngờ về tính cách và những động cơ bên trong của Hồ Chí Minh là
    trọng tâm của cuộc tranh luận ở Hoa Kỳ về mặt đạo lý của cuộc chiến Việt
    Nam. Đối với những người chỉ trích chính sách của Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh là
    người yêu nước giản dị đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho nhân
    dân Việt Nam, người đấu tranh mạnh mẽ chống lại chủ nghĩa đế quốc toàn
    cầu trong Thế Giới Thứ Ba. Những người ủng hộ nỗ lực chiến tranh của Hoa
    Kỳ nghi ngờ động cơ yêu nước của Hồ Chí Minh gián tiếp chỉ ra rằng, ông từ
    lâu là đặc vụ của Iosiff Stalin, đã có năm thập niên phục vụ cho cách mạng
    thế giới. Họ cho rằng, hình ảnh chủ nghĩa dân tộc mà Hồ Chí Minh cần mẫn
    gây dựng chỉ là mưu đồ để giành sự ủng hộ trong nước và quốc tế cho sự
    nghiệp cách mạng.
    Đối với người Mỹ, cuộc tranh luận về Hồ Chí Minh tạo ra những cảm xúc
    mạnh mẽ về một cuộc chiến tranh đã đi vào quá khứ. Đối với người Việt
    Nam cuộc tranh luận gợi nên những câu hỏi quan trọng hơn nhiều, bởi điều
    này xác định những vấn đề trọng tâm trong cuộc cách mạng Việt Nam - mối
    quan hệ giữa quyền tự do con người và bình đẳng về kinh tế ở nước Việt
    Nam mới trỗi dậy sau chiến tranh-. Kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc,
    các cộng sự của Hồ Chí Minh, một số vẫn đang nắm giữ quyền hành tại Hà
    Nội, đã không ngừng đúc rút từ những ký ức của Hồ Chí Minh để thần thánh
    hoá mô hình phát triển đất nước cộng sản. Những người này cho rằng, mục
    tiêu của Hồ Chí Minh trong suốt sự nghiệp của mình là xoá bỏ bóc lột của
    chủ nghĩa tư bản toàn cầu và tạo ra một thế giới cách mạng mới với đặc điểm
    chính là chủ nghĩa xã hội không tưởng của Karl Marx. Tuy nhiên, một số ý
    kiến khác lại không đồng tình, cho rằng mục tiêu chính trong sự nghiệp của

    ông là quyết tâm làm mềm mỏng nguyên tắc cứng nhắc bất di bất dịch trong
    cuộc đấu tranh giai cấp theo luận thuyết Marxist thông qua việc kết hợp
    nguyên tắc này với Khổng Tử và ba nhân tố cách mạng Pháp là Tự do, Bình
    đẳng và Bác ái. Để biện hộ, họ trích dẫn một trong những khẩu hiệu của ông
    thường thấy ở Việt Nam ngày nay “Không có gì quý hơn độc lập tự do”[1*].
    Vì thế cuộc tranh luận về Hồ Chí Minh là cốt lõi của một số vấn đề quan
    trọng tạo nên dấu ấn thế kỷ XX, kỷ nguyên của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa
    cách mạng, chủ nghĩa quân bình và phấn đấu vì quyền tự do của con người.
    Sự phức tạp trong tính cách của Hồ Chí Minh phản ánh phức tạp của thời đại.
    Ông vẫn là một thế lực đầy uy quyền ở Việt Nam sau chiến tranh được hàng
    triệu người kính trọng nhưng rõ ràng cũng bị nhiều người căm ghét. Dù tốt
    hay xấu, Hồ Chí Minh đã thể hiện trong ông hai động lực quan trọng của xã
    hội hiện đại - khao khát độc lập dân tộc và phấn đấu vì công bằng kinh tế và
    xã hội. Mặc dù chúng ta chưa có đủ tất cả mọi bằng chứng nhưng đã đến lúc
    phải phân tích đánh giá nhân vật có ảnh hưởng trong thế kỷ XX dưới góc độ
    lịch sử.
    Những khó khăn mà bất kỳ một nhà viết tiểu sử nào muốn tìm hiểu vấn đề
    này gặp phải đều rất lớn. Mặc dù tên Hồ Chí Minh được hàng triệu người trên
    thế giới biết đến nhưng lâu nay rất thiếu những nguồn thông tin có thể kiểm
    chứng được về cuộc đời ông. Phần lớn thời thanh niên hoạt động cách mạng
    chống lại chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương, ông đã phải tha phương trong
    nhiều năm cũng như sống bí mật ngay trên đất nước mình. Suốt thời gian đó,
    ông sống và đi lại một cách bí mật với nhiều bí danh khác nhau. Người ta ...
     
    Gửi ý kiến

    “Đọc sách rất quan trọng. Nếu biết cách đọc cả thế giới sẽ mở ra với bạn.” – Barack Obama

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS CẨM CHẾ - THANH HÀ -HẢI DƯƠNG !